Xem chi tiết bài viết - Xã Vĩnh Thủy

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VẺ VANG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

8:59, Thứ Hai, 18-5-2026

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với lịch sử đấu tranh vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Người đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Năm 1987, UNESCO đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên (12/1920)

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Từ nhỏ, Người đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước, tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó và lòng thương dân sâu sắc của quê hương, gia đình. Lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ của thực dân Pháp, Người tận mắt chứng kiến cuộc sống lầm than của nhân dân và sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Điều đó thôi thúc Người phải tìm một con đường cứu nước mới cho dân tộc.

Ngày 5/6/1911, với tên gọi Nguyễn Tất Thành, Người rời Bến Nhà Rồng lên tàu ra đi tìm đường cứu nước. Đây là quyết định mang ý nghĩa lịch sử đối với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Trong gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã đi qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ; vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu lý luận cách mạng và khảo nghiệm thực tiễn đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Qua thực tế, Người nhận ra rằng chủ nghĩa thực dân ở đâu cũng tàn bạo, áp bức nhân dân lao động; đồng thời hiểu rằng các dân tộc muốn được giải phóng phải tự đứng lên đấu tranh bằng chính sức mạnh của mình.

Năm 1919, dưới tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Versailles, yêu cầu thực dân Pháp và các nước thắng trận công nhận các quyền tự do, dân chủ tối thiểu của nhân dân Việt Nam. Dù bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng sự kiện này đã đánh dấu bước trưởng thành quan trọng trong tư duy chính trị của Nguyễn Ái Quốc và đưa tên tuổi Người đến với dư luận quốc tế.

Tháng 7/1920, khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin đăng trên báo L’Humanité, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam – con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trong những năm 1920–1930, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tích cực trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo Người cùng khổ để tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và bênh vực các dân tộc thuộc địa. Năm 1925, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, vạch trần bản chất tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa.

Cũng trong năm 1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đào tạo đội ngũ cán bộ cho cách mạng. Người mở các lớp huấn luyện chính trị, xuất bản báo Thanh niên và viết tác phẩm Đường Cách mệnh. Đây là những tài liệu lý luận quan trọng đặt nền móng tư tưởng cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.

Tháng 2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp tại Hương Cảng (Trung Quốc), quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và mở ra con đường cách mạng đúng đắn cho nhân dân Việt Nam.

Trong giai đoạn 1930–1945, dù bị thực dân Anh bắt giam tại Hồng Kông, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch cầm tù ở Trung Quốc và phải hoạt động trong điều kiện vô cùng gian khổ, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, luôn theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng tại Pác Bó, Cao Bằng. Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương 8 do Người chủ trì đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết toàn dân đứng lên cứu nước. Dưới sự lãnh đạo của Người, lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh, tạo tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ lịch sử khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã vùng lên giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc về quyền con người và quyền dân tộc tự quyết.

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách: nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài. Với bản lĩnh và trí tuệ của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Sau năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt hai miền. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Người luôn nhấn mạnh vai trò của miền Bắc là hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam và khẳng định chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Trước cuộc chiến tranh xâm lược ngày càng ác liệt của đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Người kêu gọi toàn dân đoàn kết chiến đấu, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tư tưởng, ý chí và niềm tin của Người đã trở thành nguồn cổ vũ to lớn đối với quân và dân cả nước.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trước lúc đi xa, Người để lại bản Di chúc thiêng liêng, thể hiện niềm tin son sắt vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đồng thời căn dặn Đảng và nhân dân ta phải chăm lo xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và tinh thần quốc tế cao cả. Người đã mở ra một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam – thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh mãi mãi là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục soi đường cho cách mạng Việt Nam. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc. Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Người sẽ mãi là tấm gương sáng để các thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Phương Nga

Các tin khác
 

 
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM !
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
 
 

 
LIÊN KẾT WEBSITE